Sunday, April 14, 2013


Phòng ngừa bệnh quai bị

Hỏi: Con tôi 9 tuổi, mấy ngày nay cháu bị sốt, không muốn ăn uống, bên mang tai sưng to, đau. Có phải cháu bị quai bị, bệnh này có bị lây không, phòng tránh như thế nào, thưa bác sĩ?
Trả lời: Quai bị là một bệnh nhiễm cấp tính do Paramyxovirus gây nên, làm viêm các tuyến nước bọt mang tai. Ai cũng dễ mắc quai bị nhưng hay gặp nhất là lứa tuổi từ 10 -19 tuổi và nam dễ gặp hơn nữ.
Bệnh quai bị lây theo đường hô hấp qua những giọt nước bọt bắn vào khi bệnh nhân nói, hắt hơi, ho. Biểu hiện của bệnh là người bệnh có cảm giác khó chịu, ăn kém, sốt, đôi khi rét, đau họng và đau góc hàm. Sau đó, tuyến mang tai sưng to dần trong khoảng 3 ngày rồi giảm sưng dần trong khoảng 1 tuần. Bệnh nhân có cảm giác khó nói, khó nuốt, đôi khi phù thanh môn gây khó thở phải mở khí quản. Thời gian biểu hiện bệnh lý khoảng 10 ngày. Nếu không điều trị kịp thời, bệnh quai bị có thể để lại những biến chứng nguy hiểm như viêm tinh hoàn và mào tinh, viêm buồng trứng, viêm cơ tim, viêm tuyến giáp, viêm tuyến mang tai…
Phụ nữ có thai mà mắc quai bị trong 3 tháng đầu, con rất dễ bị dị dạng. Phòng bệnh quai bị tốt nhất là chủ động tiêm phòng vaccin và nên tư vấn bác sĩ trước khi tiêm phòng. Khi người nhà đã mắc quai bị nên cách ly đến khi khỏi hẳn để tránh lây lan.
ThS. Hà Hùng

Những biến chứng thường gặp của bệnh quai bị ở trẻ

Hỏi: Tôi nghe nói vào mùa lạnh trẻ em thường hay bị bệnh quai bị. Và bệnh này thường gây nhiều biến chứng cho trẻ. Vậy xin bác sĩ cho biết làm cách nào để phòng tránh và điều trị cho trẻ.
Trả lời: Bệnh do virút có tên khoa học là Paramyxovirút gây nên, bệnh chỉ xuất hiện ở người, thường gặp ở trẻ em dưới 15 tuổi, nhất là trẻ từ 6 – 10 tuổi. Bệnh thường phát vào mùa đông xuân, khi thời tiết bắt đầu chuyển lạnh, đặc biệt là là thời gian giáp Tết. Bệnh xuất hiện ở những nơi đông người như: nhà trẻ, trường học, ký túc xá, khu tập thể… Bệnh lây lan chủ yếu qua đường hô hấp do nước bọt bị nhiễm trùng khi người bệnh nói chuyện, ho hoặc hắt hơi. Bệnh có thể lây cho người tiếp xúc ở một tuần trước khi tuyến mang tai sưng và kéo dài 2 tuần sau khi thấy sưng tuyến mang tai.
Về triệu chứng, sau thời gian ủ bệnh từ 15 – 21 ngày, virút phát triển ở niêm mạc miệng, sau đó xâm nhập vào máu gây viêm các cơ quan. Viêm tuyến mang tai là thể điển hình nhất. Trẻ sốt 38 – 39oC, nhức đầu, mệt mỏi, ăn ngủ kém. Viêm và sưng tuyến mang tai, da căng phồng lên, không đỏ, đau, miệng khô và khó nuốt. Thường 4 – 5 ngày sau thì hết sốt, sưng đau giảm dần và khỏi.
Bệnh quai bị ở người lớn thường nặng và có nhiều biến chứng hơn ở trẻ em. Có thể có các biến chứng sau viêm tinh hoàn và mào tinh hoàn, biến chứng này thường xảy ra sau đợt viêm tuyến mang tai thì xuất hiện tinh hoàn sưng to, đau, mào tinh căng phù như một sợi dây thừng, tình trạng viêm và sốt có thể kéo dài, có khoảng 1/3 trường hợp dẫn đến teo tinh hoàn và có thể dẫn đến tình trạng vô sinh sau này. Viêm buồng trứng ở bé gái thường gặp ở tuổi dậy thì, ít để lại di chứng vô sinh. Biến chứng viêm tụy là một biểu hiện nặng của quai bị, bệnh nhân bị đau bụng nhiều, ói, có khi tụt huyết áp.
Về điều trị, hiện nay quai bị chưa có thuốc đặc trị, mà chủ yếu là điều trị triệu chứng và nâng đỡ cơ thể. Nằm nghỉ tuyệt khi có sưng tinh hoàn. Cần cách ly bệnh nhân ít nhất 10 – 15 ngày từ khi phát hiện bệnh. Vệ sinh răng miệng, ăn lỏng, giảm đau và hạ sốt bằng paracetamol. Trường hợp viêm tinh hoàn, cần mặc quần lót nâng tinh hoàn để giảm đau và dùng corticoid liều cao ngay từ đầu, thường dùng prednisolon 60mg/ngày, sau đó giảm dần trong 7 – 10 ngày.
Về phòng bệnh, điều trước tiên là người bệnh phải được cách ly tại nhà, không đi học, hạn chế tiếp xúc với người bệnh, khi tiếp xúc phải mang khẩu trang. Thời gian cách ly người bệnh trong khoảng 10 ngày kể từ khi bắt đầu sưng tuyến mang tai. Ngày nay thường được tiêm phòng để tạo miễn dịch chủ động như dùngvắc-xin Trimovax hay MMR, vắc-xin không nên tiêm cho trẻ dưới 1 tuổi, tuy nhiên nếu trẻ sống trong môi trường dịch bệnh, có thể tiêm ngừa từ 9 tháng tuổi. Không tiêm cho phụ nữ có thai, người bị dị ứng với vắc-xin, người đang dùng thuốc gây giảm miễn dịch như: corticoid, thuốc điều trị ung thư, người đang điều trị với tia phóng xạ…
BS.CKI. TRẦN QUỐC LONG

Dấu hiệu của thủy đậuRubellaquai bị

Hỏi: Xin cho em biết dấu hiệu chi tiết về bệnh thủy đậu, rubella và quai bị, sự khác và giống nhau giữa những bệnh trên. Em xin cảm ơn
Trả lời: Nhìn chung 3 bệnh này cũng không khó nhận biết.
Thủy đậu: triệu chứng chính là nổi bóng nước, thường xuất hiện rất nhanh và nổi toàn thân. Trẻ nhỏ thường ít kèm theo sốt, trong khi trẻ trên 7 tuổi và người lớn thường kèm theo sốt cao, mệt mỏi, biếng ăn. Các nốt bóng nước này thường nổi từng đợt, xen kẽ bóng nước cũ và bóng nước mới. Nếu triệu chứng như trên thì gần như là bệnh thủy đậu, đặc biệt là xung quanh, trong trường học có người bệnh tương tự.
Rubella: thường nổi ban (những chấm đỏ) rải rác toàn thân, xuất hiện rất nhanh, đôi khi chỉ vài giờ đã nổi khắp người. Cũng tương tự thủy đậu, trẻ trên 7 tuổi và người lớn, đặc biệt là phụ nữ thường kèm theo mệt mỏi, đau khớp. Đa số các trường hợp sẽ xuất hiện những hạt nhỏ, sau tai và dọc phần sau của cổ. Nếu triệu chứng nổi ban như trên, nguyên nhân chủ yếu do rubella, các bệnh khác rất hiếm có những triệu chứng như thế.
Quai bịtriệu chứng chính là sưng vùng tuyến mang tai hai bên, có thể kèm theo đau nhức, khó nhai. Vùng sưng này không đỏ, nếu đỏ hoặc lan rộng thì nên nghĩ tới bệnh khác như: viêm tuyến mang tai do vi trùng, viêm hạch vùng mang tai. Để xác định rõ, cần đến khám bác sĩ chuyên khoa.

Chích ngừa sởiquai bịrubella cho trẻ rất quan trọng

Hỏi:Con trai tôi được 17 tháng, nặng 10,6 kg. cháu chưa đi nhà trẻ nên ít bị bệnh vặt như sổ mũi, ho. Tôi chưa cho cháu đi chích ngừa mũi 3 trong 1, sởi,quai bị, rubella. Tôi có thể bỏ mũi chích này được không? Nếu không thì thời điểm này cháu đang mọc răng có chích được không? Mỗi khi đi tiêm về cháu hay quấy khóc, biếng ăn rồi sút cân, tôi phải làm sao để cải thiện tình hình này? Chích ngừa sởi xong thì tháng sau có chích luôn được thủy đậu?
[IMG]
Trả lời: Chích ngừa vacxin 3 trong 1 (sởi, quai bị, rubella) không nên bỏ vì đây là 3 bệnh rất dễ mắc phải, nhất là khi vào mùa bệnh và khi em bé tiếp xúc với môi trường đông người (nhà trẻ, mẫu giáo…). Chị có thể chích cho bé khi bé không còn nóng sốt, nhưng đừng bỏ quên. Chích ngừa không gây biếng ăn cho trẻ vì thuốc ngừa trước khi đưa ra thị trường đã có sự nghiên cứu về độ an toàn cho trẻ. Sau chích ngừa, trẻ hơi quấy khóc là điều tốt, vì lúc này cơ thể trẻ chuẩn bị sản xuất ra kháng thể chống lại bệnh. Kháng thể này sẽ duy trì trong tương lai, khi tiếp xúc với tác nhân gây bệnh, trẻ sẽ không mắc bệnh. Sau khi chích ngừa 3 trong 1, nếu muốn chích thêm thủy đậu thì chị phải chờ một tháng.

Bệnh quai bị

Quai bị (tiếng Anh: Mumps) dân gian còn gọi là bệnh chàm bàm là một bệnh toàn thân biểu hiện bằng sưng một hay nhiều tuyến nước bọt, thường gặp nhất là các tuyến mang tai.
Khoảng 1/3 các trường hợp nhiễm bệnh không gây nên các triệu chứng sưng tuyến nước bọt rõ ràng trên lâm sàng. Trên 50% bệnh nhân mắc bệnh quai bị có hiện tượng tăng bạch cầu trong dịch não tủy. Một số bệnh nhân có biểu hiện viêm màng não rõ với các triệu chứng nhức đầu, nôn mửa, cứng cổ…
[IMG]
Viêm tinh hoàn (orchitis) là một biến chứng khá thường gặp sau tuổi dậy thì nhưng biến chứng vô sinh thì không thường gặp như nhiều người vẫn lo ngại. Các biến chứng khác hiếm gặp hơn gồm viêm khớp, viêm tuyến giáp, viêm khớp xương hàm, viêm cầu thận, (glomerulonephritis), viêm cơ tim, xơ hóa nội tâm mạc, giảm tiểu cầu, thất điều tiểu não, viêm tủy cắt ngang, viêm đa dây thần kinh lan lên, viêm tụy cấp, viêm buồng trứng (oophoritis), và giảm thính lực.
Nguyên nhân

Quai bị gây nên do một loại virus ARN thuộc Rubulavirus trong họ Paramyxoviridae. Các nguyên nhân khác gây viêm tuyếm mang tai gồm virus vùi hạt cự bào (cytomegalovirus-CMV), virus á cúm type 1 và 3, virus cúm A (influenza A virus), coxsackievirus, virus ruột (enterovirus), virus gây suy giảm miễn dịch ở người (Human Immunodeficiency Virus-HIV), tụ cầu khuẩn, và các Mycobacterium không gây lao khác. Các nguyên nhân gây viêm tuyến mang tai hiếm gặp khác có thể kể: do ăn nhiều tinh bột, phản ứng thuốc (phenylbutazone, thiouracil, các thuốc chứa iốt) và các rối loạn chuyển hóa (như bệnh đái tháo đường, xơ gan và suy dinh dưỡng).
Dịch tễ học

Trước đây, các vụ dịch thường xảy ra từ tháng Giêng đến tháng Năm ở các vùng khí hậu ôn đới, tuy nhiên ngày nay biểu hiện theo mùa không còn rõ ràng nữa, nghĩa là bệnh có thể xảy ra quanh năm. Tại Hoa Kì, sau khi vaccine ngừa quai bị được sử dụng, hằng năm có khoảng 500 trường hợp mắc bệnh được ghi nhận. Tại Việt nam, vaccine ngừa quai bị chưa được đưa vào trong chương trình tiêm chủng mở rộng nên bệnh còn lưu hành khá cao, thường gây nên những vụ dịch nhỏ ví dụ như trong nhà trẻ, trường học, nhất là các trường nội trú, bán trú.
Bệnh thường thấy ở lứa tuổi từ 5 đến 14 tuổi. Ở trẻ được chủng ngừa quai bị thì hiện tượng viêm tuyến mang tai không phải do quai bị mà do các nguyên nhân khác nêu trên. Cũng giống như vaccine ngừa bệnh sởi, một liều vaccine duy nhất không phải luôn luôn đảm bảo được tình trạng miễn dịch thỏa đáng cho trẻ. Thời kì lây truyền mạnh nhất là 2 ngày trước khi có sưng tuyến mang tai và 5 ngày sau khi xuất hiện triệu chứng này. Virus quai bị có thể phân lập được tù tuyến mang tai từ 7 ngày trước và kéo dài đến ngày thứ 9 sau khi tuyến mang tai bắt đầu sưng.
Thời kì ủ bệnh thường kéo dài từ 16 đến 18 ngày nhưng cũng có khi thay đổi từ 12 đến 25 ngày sau khi tiếp xúc nguồn lây.
Chẩn đoán
Có thể phân lập virus quai bị bằng phương pháp nuôi cấy tế bào từ các bệnh phẩm phết họng, nước tiểu, dịch não tủy hặc có thể xét nghiệm xác định sự gia tăng nhanh chóng hiệu giá kháng thể IgG khi so sánh hai thời điểm mắc bệnh cấp và giai đoạn hồi phục bệnh. Xét nghiệm này có thể thực hiện bằng các kĩ thuật huyết thanh học tiêu chuẩn như cố định bổ thể (complement fixation), phản ứng trung hòa (neutralisation), ức chế ngưng kết hồng cầu (hemagglutination inhibition test), miễn dịch enzyme (enzyme immunoassay) hoặc xét nghiệm định lượng kháng thể IgM quai bị (mumps IgM antibody test). (Nhiễm trùng cũ có thể xác định bằng kỹ thuật miễn dịch phóng xạ enzyme hay phản ứng trung hòa còn kỹ thuật cố định bổ thể và ức chế ngưng kết hồng cầu không phù hợp trong trường hợp này). Test da (skin test) cũng không đáng tin cậy do đó không nên dùng test này để tìm hiểu tình trạng miễn dịch của trẻ.
Điều trị

Hiện nay không có phương pháp điều trị đặc hiệu. Điều trị chủ yếu là nâng đỡ: tăng cường dinh dưỡng, nghỉ ngơi, uống nhiều nước, hạ sốt nếu có sốt, giảm đau khi viêm tuyến mang tai gây đau. Phát hiện sớm các biến chứng như viêm tinh hoàn, viêm màng não
Trường học và nhà trẻ

Trẻ bệnh phải nên cho nghỉ học đến 9 ngày sau khi có sưng tuyến mang tai. Khi có vụ bùng phát dịch xảy ra thì chính quyền địa phương, trung tâm phòng dịch và nhà trường sẽ có những biện pháp dập dịch tùy theo từng trường hợp và điều kiện. Biện pháp hữu hiệu nhất là đóng cửa trường học, tuy nhiên quyết định này không phải lúc nào cũng có thể dễ dàng thực hiện.
Đối với những người tiếp xúc nguồn lây

Vaccine phòng ngừa quai bị thường không có hiệu quả sau khi đã tiếp xúc nguồn lây. Tuy nhiên vaccine này vẫn được khuyên dùng vì nó có khả năng bảo vệ trong những lần tiếp xúc sau đó. Tiêm ngừa trong thời kì ủ bệnh không hề làm tăng nguy cơ bệnh nặng. Globulin không có tác dụng và dó đó không còn được sản xuất hay cấp phép tại Hoa Kì.
Vaccine quai bị

Khuyến cáo sử dụng vaccine:

  • Chủng ngừa quai bị rất quan trọng ở những trẻ dậy thì, thiếu niên và người trưởng thành chưa có miễn dịch chống quai bị. Như trên đã nói, quai bị xảy ra ở người lớn thường có khuynh hướng nặng nề hơn.
Phản ứng phụ của vaccine:

Thường hiếm gặp. Một số trường hợp viêm tinh hoàn và viêm tuyến mang tai được ghi nhận sau chủng ngừa. Phản ứng dị ứng hiếm gặp (những người dị ứng với albumin trứng gà).
Những đối tượng không nên tiêm hoặc hoãn tiêm vaccine:

Vì vaccine ngừa quai bị chứa virus sống nên không khuyến cáo cho các trường hợp sau đây:
  • Suy giảm miễn dịch nặng như bệnh nhân AIDS tiến triển.
  • Bệnh ác tính toàn thân: Leucémie, lymphoma…
  • Bệnh nhân đang điều trị corticoid toàn thân liều cao, thuốc chống chuyển hóa, độc tế bào, xạ trị chống ung thư.
  • Phụ nữ mang thai và nghi ngờ mang thai không được tiêm vaccine quai bị.
  • Những phụ nữ được tiêm vaccine quai bị cần áp dụng biện pháp ngừa thai trong thời gian ít nhất là 28 ngày sau khi tiêm.

Bệnh quai bị và biến chứng viêm tinh hoàn

Hỏi: Bác sĩ cho em hỏi. Năm 26 tuổi em bị quai bị, từ ngày đó em thấy hai bi của em một viên to, viên nhỏ. Cho em hỏi có bị ảnh hưởng gì sau này không, em xin cảm ơn.
Trả lời: Người bình thường cũng viên to viên nhỏ. Nếu lúc em bị quai bị mà không bị sưng đỏ vùng bìu thì chắc chắc em không bị biến chứng viêm tinh hoàn nên không ảnh hưởng tới khả năng sinh sản. Nếu em bị sưng đau đỏ vùng bìu một bên thì chỉ bị viêm tinh hoàn một bên. Nếu viêm tinh hoàn một bên cũng không ảnh hưởng tới khả năng sinh sản.

Bệnh truyền nhiễm đang gia tăng

Trước tình hình dịch bệnh của trẻ em liên tục xảy ra ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước, sáng 20-3, Viện Pasteur TPHCM đã tổ chức hội thảo với chủ đề “Làm thế nào phòng ngừa hiệu quả nhất các bệnh thủy đậu (hay còn gọi trái rạ), sởiquai bịRubella cho trẻ em”. Hội thảo đã thu hút sự tham gia của nhiều chuyên gia dịch tễ trong và ngoài nước cùng hàng trăm cán bộ y tế từ các bệnh viện của TPHCM, các tỉnh miền Trung và ĐBSCL.
Thủy đậu thành bệnh thường gặp

Thạc sĩ – bác sĩ Nguyễn Thị Minh Phượng, Trưởng Khoa Y tế công cộng của Viện Pasteur TPHCM, cho biết tại khu vực phía Nam, số ca mắc thủy đậu đã tăng rất nhanh, cụ thể từ 1.000 ca trong năm 2003 đã lên đến gần 6.000 ca năm 2008. Số bệnh nhân thủy đậu vào điều trị tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới TPHCM từ 32 ca năm 2003 đã tăng lên mức 334 ca năm 2008, đối tượng mắc chủ yếu là người lớn.
Số lượng người mắc bệnh và nhập viện vì bệnh thủy đậu tuy chưa được thống kê cụ thể trong 2 năm 2009 và 2010 nhưng các chuyên gia dịch tễ đều thống nhất với nhận định rằng thủy đậu đã trở thành bệnh thường gặp. Cũng qua theo dõi dịch tễ từ chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia, từ tháng 10 – 2008 đến tháng 1-2010, tỉ lệ mắc sởi đã tăng cao ở 2 nhóm tuổi 1-6 và 18-24.
Thống kê của Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Tiền Giang cho thấy nhóm tuổi mắc quai bị cao nhất là 5-9. Về Rubella, theo Tổ chức UNICEF, trong năm 2009, ước tính có 1.650 ca mắc hội chứng Rubella bẩm sinh, chiếm 10% trong 1.649.694 trẻ được sinh ra; điều rất cần lưu ý là nhóm tuổi mắc Rubella cao nhất ở cả hai miền Nam và Bắc nước ta đều tập trung ở phụ nữ từ 15-45 tuổi, là nhóm trong độ tuổi sinh sản.
Các chuyên gia dịch tễ đã khuyến cáo việc phòng ngừa các bệnh nói trên cho cộng đồng là thực sự rất cần thiết, nhất là trẻ em và phụ nữ trong độ tuổi sinh sản từ 15- 45. Trong đó, tiêm vắc-xin là biện pháp chủ động nhất giúp phòng tránh hữu hiệu các bệnh này. Người dân có thể tiêm ngừa vắc-xin phòng 3 bệnh sởi quai bị – Rubella cho trẻ tại các bệnh viện sản, nhi hoặc các trung tâm y tế dự phòng tỉnh, quận – huyện trong cả nước.
Lưu ý phác đồ dùng hai liều vắc-xin

Tiến sĩ – bác sĩ Mary Ann C. Bunyi, Trung tâm Y khoa De Los Santos và Bệnh viện MCU- Philippines, cho biết theo khuyến cáo của Hiệp hội Tư vấn thực hành tiêm chủng nhi khoa Mỹ, trẻ em cần được tiêm một liều vắc-xin chứa 3 thành phần sởi-quai bị-Rubella vào lúc 12-15 tháng tuổi và liều thứ hai lúc 4-6 tuổi. Lợi ích chính của việc tiêm chủng này là nhằm giảm những cá thể nhạy cảm thất bại với liều một hoặc do miễn dịch của liều một giảm dần theo thời gian.
Đối với bệnh thủy đậu, hiện có tình trạng một số trẻ đã tiêm ngừa một liều vắc-xin nhưng vẫn bị mắc thủy đậu. Hiện tượng này xảy ra là do nồng độ kháng thể trong cơ thể đã bị giảm dần theo thời gian.
Tiến sĩ – bác sĩ Mary Ann C. Bunyi cũng đề cập lợi ích của phác đồ dùng hai liều vắc-xin cho trẻ em giúp tạo ra đáp ứng miễn dịch mạnh hơn và quan trọng hơn nữa là mang lại hiệu lực vắc-xin cao hơn một cách ý nghĩa, giảm tỉ lệ mắc thủy đậu đến 3,3 lần so với một liều như trước kia. Vì những lý do trên, từ tháng 6-2007, Ủy ban Thực hành Tiêm chủng Mỹ đã khuyến cáo chủng ngừa hai liều vắc-xin thủy đậu cho cả trẻ em từ 12 tháng đến 12 tuổi, giúp tăng cường hiệu quả việc bảo vệ chống lại bệnh này.
Dễ bùng phát dịch ở nơi đông người

Tiến sĩ – bác sĩ Trần Ngọc Hữu, Viện trưởng Viện Pasteur TPHCM, cho biết thủy đậu, sởi, quai bị, Rubella là những bệnh nhiễm có tính lây lan rất cao và dễ tạo dịch trong cộng đồng. Dịch thủy đậu, sởi và Rubella thường xảy ra từ tháng 1 đến tháng 5 hằng năm. Những nơi tập trung đông người như trường học, cơ quan, xí nghiệp là môi trường rất dễ bùng phát thành dịch.
Biến chứng hay gặp nhất từ thủy đậu là nhiễm trùng các nốt ban gây nhiễm trùng da có thể dẫn đến sẹo, trong khi Rubella dễ gây nguy hiểm cho phụ nữ mang thai 3 tháng đầu dẫn đến thai nhi bị hội chứng Rubella bẩm sinh.